Thế giới luôn nằm gọn trong tầm tay của chúng ta qua đôi mắt nhìn về phía trước. Nhưng với người mắc chứng thoái hóa điểm vàng loại khô, giai đoạn cuối gọi là Geographic Atrophy, ánh sáng ấy dần lụi tắt tại tâm điểm quan trọng nhất. Chỉ còn lại khung cảnh mờ ảo ở rìa và cảm giác trống trải khi cố gắng tập trung vào khuôn mặt người thân hay dòng chữ trên trang sách yêu quý của mình.
Nhưng giờ đây, một niềm vui thật sự đã đến với cộng đồng y khoa toàn cầu. Công nghệ cấy ghép võng mạc không dây PRIMA vừa nhận được chứng chỉ CE, cho phép chính thức bán ra tại 30 quốc gia châu Âu theo quy định mới về thiết bị y tế của Liên minh Châu Âu. Đây là bước tiến lớn giúp các bác sĩ bắt đầu cung cấp sản phẩm này đến những bệnh nhân đủ điều kiện mà trước đây chưa thể tiếp cận phương pháp chữa trị cụ thể nào khác ngoài kiểm soát triệu chứng.
PRIMA không cố gắng tái sinh võng mạc đã chết, thay vào đó nó sử dụng mạch điện tử để khôi phục liên kết giữa mắt và não bộ còn hoạt động tốt sau khi tổn thương xảy ra. Hệ thống bao gồm một chip nhỏ 30 micromet đặt dưới phần da võng mạc hư hại, chứa mảng pin mặt trời vi mô với 378 pixel quang điện giúp thu nhận tín hiệu hình ảnh từ bên ngoài vào não.
Điểm đặc biệt của PRIMA là tính năng “không dây” thực sự để tránh gây đau đớn hay rủi ro cho bệnh nhân dài hạn. Thay vì dùng cáp nối xuyên qua mắt hay cần bộ sạc bên trong cơ thể, hệ thống sử dụng ánh sáng hồng ngoại gần để truyền cả dữ liệu hình ảnh lẫn nguồn điện cho chip dưới da. Bộ kính chuyên dụng gắn trên mặt ghi lại cảnh vật trước người đeo và chiếu hình ảnh đã xử lý về con chip dưới mắt bằng tia hồng ngoại vô hình này.
Vì chỉ dùng ánh sáng làm năng lượng, thiết bị không cần pin hay dây nối phức tạp trong nội tạng. Hình ảnh được giới hạn ngay trong vùng cấy ghép nên bệnh nhân vẫn có thể tiếp tục sử dụng tầm nhìn tự nhiên xung quanh để di chuyển và nhận biết môi trường sống hàng ngày mà an toàn hơn nhiều so với trước đây.
Quan trọng là chúng ta hiểu rõ thị lực khôi phục ở cấp độ thấp, không phải là hình ảnh sắc nét như mắt thường thấy. Bệnh nhân sẽ phân biệt được bóng tối hay các vật thể lớn thay vì nhìn rõ chi tiết sắc nét trên khuôn mặt người thân ngay lập tức sau khi cấy ghép, nhưng khả năng nhận diện môi trường sống vẫn trở nên an toàn và hữu ích hơn hẳn trong cuộc đời hàng ngày của họ.
Ý tưởng về phương pháp truyền năng lượng này từ lâu đã được giáo sư Daniel Palanker tại Stanford (Mỹ) hình dung vào năm 2005, dựa trên tính trong suốt của mắt người để gửi tín hiệu đến thiết bị cấy ghép mà không làm tổn thương cấu trúc tự nhiên. Công ty Pixium Vision sau đó phát triển PRIMA và đưa vào thử nghiệm lâm sàng với con người trước khi Science Corp chính thức tiếp quản tài sản công nghệ này cùng các nghiên cứu đang diễn ra từ hãng gốc trong năm gần đây nhất.
Tháng tư năm ngoái, kết quả của cuộc thử nghiệm then chốt PRIMAvera được đăng tải trên tạp chí y khoa uy tín New England Journal of Medicine (NEJM) đã ghi nhận những tiến bộ rõ rệt. Trong số 32 bệnh nhân hoàn thành đánh giá thị lực sau một năm, khoảng hơn hai mươi người đã cải thiện ít nhất là 10 ký tự trên bảng kiểm tra mắt tiêu chuẩn so với mức trung bình thống kê từ các ca thất bại trong quá trình nghiên cứu này trước đó rất nhiều.
Hơn nữa, các đơn xin chi trả y tế đang được xử lý từng quốc gia một để bệnh nhân có thể tiếp cận sớm nhất sau khi sản phẩm chính thức ra đời trên thị trường thương mại. Dự kiến sẽ không lâu nữa, những lần cấy ghép đầu tiên tại Đức sẽ chính thức diễn ra để người dân địa phương trải nghiệm công nghệ mới này mà không gặp khó khăn về quy định pháp lý của từng khu vực riêng lẻ như trước đây.
Dù còn nhiều rào cản về chi phí và thời gian điều chỉnh ở từng vùng lãnh thổ khác nhau, nhưng PRIMA đã chứng minh rằng sự sáng tạo của y học có thể đưa ánh sáng trở lại đôi mắt đang dần tối đi theo thời gian tự nhiên kéo dài hàng thập kỷ qua mỗi ngày trôi qua. Chúng ta hy vọng sẽ sớm thấy công nghệ này lan tỏa rộng rãi hơn nữa trên toàn cầu để mang niềm vui sống động đến nhiều gia đình Việt Nam trong tương lai gần, khi các quy định y tế và khả năng chi trả được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn địa phương của chúng ta cùng nhau xây dựng.
Bình Luận